máy cắt plasma, máy khắc gỗ cnc, máy đo độ ẩm, máy đo cường độ ánh sáng, máy đo tốc độ gió, máy đo âm thanh, máy đo nhiệt độ

Get Adobe Flash player

Bạn đang ở đây

Trang chủ

Nhân kỷ niệm năm “Đoàn kết hữu nghị Việt Nam-Lào 2017”:Hồi ức của một cựu binh

Sinh ra trên đất mẹ Vịêt Nam, trưởng thành trên đất Lào, tôi có hai cái tên, tên Việt Nam Trần Ngọc Phương và tên Lào Khăm Son. Sau những năm chiến đấu ở Lào, tôi trở về tổ quốc tiếp tục cống hiến. Và dù ở đâu hay bất cứ lúc nào  trái tim tôi cũng thổn thức nhịp đập về tình hữu nghị Việt-Lào, đất nước, con người với sắc hương chăm pha tươi đẹp.

Anh hùng Trần Ngọc Phương ( tác gải bài viết) hôn lên đất sau nhiều năm trở lại Lào

Năm 1963 nghe theo tiếng gọi của non sông, tôi sếp bút nghiên, viết đơn tình nguyện đi bộ đội. Chúng tôi hàng ngàn, hàng vạn tình nguyện Việt Nam và bộ đội Lào đã cùng nhau đoàn kết chiến đấu, chiến đấu dũng cảm trên tất cả các mặt trận, lập nên những chiến công lẫy lừng giành độc lập tự do cho mỗi nước, mỗi dân tộc.

          Rất nhiều trận đánh, chiến dịch mà tôi được tham gia. Đặc biệt, tôi không bao giờ quên trận đánh trong chiến dịch 74 (chiến dịch Đường 7 năm 1964 ) ở Cánh đồng Chun Xiêm Khooảng. Đây là vị trí rất quan trọng , bởi ở trên độ cao 1.100m (so với mực nước biển) có cánh đồng rộng trên 2.000km2 và “Nước Lào ví như một con voi trắng, cánh đồng chum chính là phần đầu của con voi, do đó ai cưỡi được đầu voi người đó thống trị được nước Lào” Kẻ thù đã đầu tư xây dựng cánh đồng chum-Xiêng khooảng thành căn cứ quân sự quan trọng và lớn nhất của chúng ở Lào, với mục tiêu là chống lại lực lượng cách mạng Lào, ngăn chặn sự tiến công của lực lượng cách mạng từ phía bắc xuống Viên Chăn, từ thượng Lào phát triển sang miền bắc Việt Nam.

Hội hữu nghị Việt - Lào tỉnh Bắc Giang đi thăm lại chiến trường xưa 

Ngày ấy tôi còn trẻ lắm ! 19 tuổi đời chưa được một tuổi quân, tôi đi bộ đội và  sang Lào ngay khi nghe bài thơ của Bác: “ …Việt Lào hai nước chúng ta, tình sâu hơn nước Hồng Hà Cửu Long.” Trong một trận chiến đấu ở PhuBạ (cách Phôn- Xa-Vẳn khoản 7 Km về phía Mường Khừng- Xa La Phu Khun ) trước ngày sinh nhật Bác một ngày. Đó là lúc 15h Ngày 18/05/1964. Tôi không phải xạ thủ B40 mà lúc đó tôi chỉ là một chiến sỹ liên lạc. Trung đội tôi có ba tiểu đội thôi mà phải chống cự với cả một binh đoàn rất lớn gồm binh đoàn xe tăng độc nhất của địch và hai tiểu đoàn bộ binh cùng các đơn vị hoả lực của địch tiến công. Do địa hình núi rừng phức tạp, hoả lực chống được xe tăng thiết giáp của địch thì chỉ có khẩu súng B40. Lúc đó đồng chí xạ thủ B40 lại đã bị thương không thể đảm nhiệm được nhiệm vụ. Tôi đã xung phong nhận súng và một mình lao thẳng từ trên đồi cao nơi đơn vị phòng ngự xuống đường để quần nhau với hàng mấy chục xe tăng, thiết giáp địch đang gầm thét rung chuyển cả mặt đất và dưới làn đạn căng xé không gian từ khắp các ngả, từ trên xe tăng địch liên hồi chát chúa bay trên đầu. Tôi chưa biết  sử dụng súng B40. Vì có một quả Lắp sẵn trong súng, tôi bóp cò bắn vào một chiếc xe bọc thép, đạn không trúng xe mà chỉ chui xuống gầm xe làm 7 tên địch nhẩy khỏi xe trú ẩn dưới một hố bom gần đó. Tôi lại mang súng lao lên đồi và được đồng đội lắp cho một quả đạn khác. Lúc này súng của quân địch đã gần hết đạn, tôi quyết định xuống đường với quyết tâm tiêu  diệt xe tăng địch. Sau khi dùng lựu đạn tiêu diệt 7 tên địch dưới hố bom, tôi  tiếp tục đuổi theo xe tăng của địch. Trên đồi cao đồng chí Nguyễn Văn Da hô lớn : “Phương ơi ! bắn xe trước”.  Tôi vượt lên, nổ súng, quả đạn lao thẳng vào chiếc xe tăng đồ sộ chỉ cách chừng 10m. Hơi lửa của quả đạn khi chạm vào xe làm tôi bị hất ngã nhoài về phía sau. May mà xe sau cũng không chạy được nữa. tôi lao vào xe sau dùng lựu đạn gõ vào xe bắt cả tốp lính thông tin trong xe phải ra hàng. Chiếc xe tôi bắn cháy trong xe có tên Chỉ huy trưởng binh đoàn chết cháy, xe bộ đàm thông tin bị bắt. Cả đoàn xe và đoàn lính hỗn loạn. Tôi cùng đồng đội bắt tù binh và dẫn những chiếc xe tăng về.

Hội hữu nghị Việt - Lào tỉnh Bắc Giang đi thăm lại chiến trường xưa 

Có lần hành quân đuổi giặc trong rừng sâu không mang theo được lương thực. Chúng tôi phải dùng nấm tai mèo tươi (mộc nhĩ ) mà những thứ này với măng rừng thì nhiều lắm. Mộc nhĩ tươi nấu với nước suối không có muối rất khó ăn vì nó nồng, ngái lại nhạt. Rất may sau 7 ngày như thế chúng tôi gặp được một tốp chị em người Lào Thâng bên một vạt nương. Có một chị đưa tôi một gói cơm nương (như xôi Việt Nam). Chúng tôi chia nhau mỗi người mấy hạt. Ấy vậy mà chúng tôi ai nấy đã ấm lòng, phấn khởi, hăng hái. Có đồng chí còn lấy một chiếc nồi nhôm ra làm trống để đập lên những tiếng bập bùng rồi mọi người mời nhau bước nhẹ vòng quanh người gõ nồi theo một điệu Phòn (múa) Lăm vông mà rộn ràng say đắm. Càng xúc động hơn khi chúng tôi được các tầng lớp nhân dân nước bạn Lào quan tâm chăm sóc, tin yêu và đùm bọc.

        Năm nay đã ở tuổi thất thập, tôi vẫn thường kể cho con cháu nghe về câu chuyện của cuộc đời mình. Sinh ra trên đất mẹ Vịêt Nam, trưởng thành trên đất Lào, tôi có hai cái tên, tên Việt Nam  Trần Ngọc Phương và tên Lào Khăm Son. Vừa qua, tôi vinh dự cùng đoàn đại biểu hội hữu nghị Việt Nam – Lào tỉnh Bắc Giang đến thăm Phu Bạ, nơi cách đây 43 năm (5/1964) tôi và đồng đội đã chiến đấu kiên cường. Không giấu được cảm xúc, tôi đã hôn lên mảnh đất kỷ niệm, mảnh đất đã để lại trong tôi tình yêu thương gắn bó mà tôi không bao giờ quên. Tôi càng tin tưởng rằng, quan hệ hữu nghị Việt Nam-Lào do lớp lớp thế hệ lãnh đạo, nhân dân và các lực lượng vũ trang hai nước dày công vun đắp nên đã, đang và sẽ tiếp tục được phát huy, không ngừng đơm hoa kết trái.

Trần Ngọc Phương

Chủ tịch hội hữu nghị Việt Nam – Lào tỉnh Bắc Giang

 

 

 

Thống kê truy cập

  • Tổng lượt xem tin bài:8693140
  • Trong ngày:474
  • Trong tuần:7080
  • Trong tháng:549133
  • Trong năm:8693140